Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

Cận cảnh ký túc xá lớn nhất Việt Nam


Với tổng mức kinh phí xây dựng 3.529 tỷ đồng, ký túc xá ĐHQG TP.HCM có quy mô lớn nhất cả nước, dự kiến cuối 2013 nơi đây sẽ trở thành khu đô thị đại học hiện đại.

Với tổng diện tích được xây dựng 59hecta bao gồm khu A hiện hữu, khu A mở rộng và khu B.
Với tổng diện tích được xây dựng 59hecta bao gồm khu A hiện hữu, khu A mở rộng và khu B.
Với tổng diện tích được xây dựng 59hecta bao gồm khu A hiện hữu, khu A mở rộng và khu B.
KTX có 61 dự án xây dựng, 51 đơn nguyên KTX từ 5 đến 16 tầng, và các dịch vụ như tầng hầm, nhà điều hành, nhà ăn, trung tâm y tế, nhà văn hóa, siêu thị và bến xe buýt.
Cận cảnh ký túc xá lớn nhất Việt Nam
Khu B KTX ĐHQG TP.HCM được khởi công xây dựng từ tháng 10/2009 với diện tích khoảng 40 ha, thuộc phía đông bắc TP.HCM- phường Linh Trung, quận Thủ Đức và xã Đông Hòa, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Cận cảnh ký túc xá lớn nhất Việt Nam
Dự kiến đến 31/12/2013 toàn bộ KTX ĐHQG TP.HCM sẽ được hoàn thiện với 24 lốc nhà, có thể đáp ứng chỗ ở và sinh hoạt cho khoảng 60.000 sinh viên và trở thành khu đô thị đại học đầu tiên của cả nước.
Hiện nay có 3 công trình đã được khánh thành (5 khối nhà) với sức chứa 5.200 SV.
Hiện nay có 3 công trình đã được khánh thành (5 khối nhà) với sức chứa 5.200 SV.

Đại lý bưu điện trong KTX.
Đại lý bưu điện trong KTX.

Nhà ăn sạch sẽ.
Nhà ăn sạch sẽ.
Canteen.
Canteen.
 Thiết bị quản lý sinh viên với máy nhận dạng và điện thoại công cộng.
 Thiết bị quản lý sinh viên với máy nhận dạng và điện thoại công cộng.

KTX có phòng học riêng dành cho sinh viên.
KTX có phòng học riêng dành cho sinh viên.
Các thiết bị điện quạt, bóng đèn được lắp đặt đầy đủ.
Các thiết bị điện quạt, bóng đèn được lắp đặt đầy đủ.
Giường ngủ ngăn nắp, gọn gàng.
Giường ngủ ngăn nắp, gọn gàng.

Lối vào các phòng sạch sẽ.
Lối vào các phòng sạch sẽ.
Niềm vui của tân sinh viên khi ở KTX mới.
Niềm vui của tân sinh viên khi ở KTX mới.

“Mổ xẻ” lý do học trò phản ứng bằng… sinh mạng


Độ tuổi mới lớn dễ gặp các sự cố, sai lầm nhưng lại thiếu kỹ năng xử lý nên không ít học trò dùng tính mạng “giải quyết vấn đề”. Dường như các em đang "chơi vơi" trong khủng hoảng của mình.

Dư luận không khỏi bàng hoàng vì thông tin một nữ sinh ở Quảng Ngãi cắt cổ tay để phản đối cô giáo, một học sinh (HS) khác ở TPHCM uống thuốc tự tử vì đánh mất 600.000 đồng tiền quỹ lớp. Cách đây vài ngày, lại có thông tin lớp trưởng tại một trường THPT ở Mê Linh (Hà Nội) cũng để lại thư tuyệt mệnh trước khi uống thuốc tự vẫn là vì làm mất khoảng 500.000 đồng tiền quỹ lớp. 
Những thông tin về HS cắt cổ tay, tự tử hay có hành vi tiêu cực khi gặp các sự cố trong học tập và cuộc sống khiến không ít người thấy lo lắng, băn khăn. Nhà trường, chuyên gia tâm lý và phụ huynh nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
Bà Phạm Thị Thúy Vĩnh - hiệu trưởng Trường Tiểu học, THCS, THPT Ngô Thời Nhiệm, TPHCM:
Từng phát hiện thư tuyệt mệnh của học trò”
Ở trường chúng tôi đã từng phát hiện những lá thư tuyệt mệnh của HS và ngăn chặn kịp thời hành vi của các em. Có em muốn tìm đến cái chết có khi chỉ vì cãi nhau với bạn bè hay tự ái vì bị bố mẹ, thầy cô la rầy. Tôi vẫn băn khoăn không hiểu những tác động nào mà HS bây giờ rất yếu đuối và dễ tổn thương đến vậy. 
Chúng ta phải nhìn nhận thực tế, hiện nay học trò chịu rất nhiều áp lực học tập, lại bị tác động rất nhiều từ bên ngoài như phim ảnh, đồ chơi, trò chơi... chưa kể, các em có hoàn cảnh đặc biệt (bố mẹ bỏ nhau, gia đình không êm ấm…). Trong khi, cá em không được trang bị kỹ năng ứng phó, đối mặt với khó khăn nên chỉ cần những vấp váp, cản trở nhỏ cũng làm cho các em thấy bế tắc.
Bên cạnh việc học kiến thức, đã đến lúc chúng ta cần chú trọng hơn nữa việc trang bị cho học trò các kỹ năng sống cần thiết, biết yêu quý và bảo vệ bản thân hơn. Nếu để tình trạng này tiếp diễn, gia đình và nhà trường cũng trở nên e dè và yếu đuối trong việc giáo dục các em.
 
HS Trường chuyên THPT Trần Đại Nghĩa, TPHCM trong chương trình giáo dục kỹ năng sống.
HS Trường chuyên THPT Trần Đại Nghĩa, TPHCM trong chương trình giáo dục kỹ năng sống.
ThS Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu - khoa Tâm lý Giáo dục, ĐH Sư phạm TPHCM:
“Ai đã chỉ dẫn cho các em kỹ năng vượt qua khó khăn?”
Tôi cảm thấy tức giận khi biết tin một HS nào đó chọn cái chết để giải quyết vấn đề. Tôi giận vì các em đã thiếu bản lĩnh, bất hiếu và xem rẻ mạng sống của mình đến thế. Nhưng tôi giận hơn cả là tại sao các em được học bao môn học, biết bao kiến thức mà sao các em vẫn không biết cách ứng xử khi gặp thất bại, cách phản ứng khi gặp một vấn đề?
Chỉ cần một lời phê bình của thầy, hay làm mất tiền, thi trượt… rồi nhiều lý do nhỏ nhặt khác cũng đủ để nhiều bạn trẻ kết thúc cuộc sống của mình. Những vấn đề đó, các em hoàn toàn có thể vượt qua được, giải quyết được nếu như người được người lớn hướng dẫn, trang bị. Nhưng không, không ai chỉ bảo cho các em kỹ năng này cả.
Biết rằng, ở độ tuổi này, hưng phấn trong thần kinh rất mạnh, đôi khi lấn át cả quá trình ức chế nên học trò dễ mất kiểm soát bản thân và có những hành động khó ngờ. Đây cũng là giai đoạn "ương ngạnh" nên đối với người lớn, trẻ có một "dấu cách"... Nhưng lý do quan trọng nhất là các em thiếu hụt trầm trọng kỹ năng ứng phó với các tình huống trong cuộc sống nên dễ rơi vào hố sâu của sự tuyệt vọng mà không thể tự kéo mình lên. Các em đang thật sự chơi vơi trong khủng hoảng tâm lý lứa tuổi của mình.
Không dừng lại ở đó, tôi luôn băn khoăn một câu hỏi trong đầu: Tại sao hầu hết sau khi các vụ tự tử xảy ra, cha mẹ đều bảo “bất ngờ”. Trong gia đình chỉ có một hai người con, chẳng lẽ họ không “nhìn thấy” điều gì khác lạ chăng? Rễ chắc thì cây vững, ít nhiều bộ rễ gia đình cũng lung lay nên cây mới dễ đổ mình đến thế?
HS Trường chuyên THPT Trần Đại Nghĩa, TPHCM trong chương trình giáo dục kỹ năng sống.
ThS Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu (phải) băn khoăn trước việc HS học kiến thức rất nhiều nhưng thiếu các kỹ năng sống cơ bản nhất.
Hiệu phó một trường THPT ở Q.1, TPHCM:
“Nhiều HS sống thiếu hoài bão, lý tưởng”
Có rất nhiều nguyên nhân về việc HS giải quyết vấn đề bằng cái chết như đua đòi, chơi nổi hoặc dọa người lớn. Một số em thiếu sự quan tâm đúng mức từ gia đình, không có người lắng nghe, chia sẻ…
Tuy nhiên, hiện nay nhiều em được bố mẹ cưng chiều từ nhỏ, không quen với việc phải chấp nhận thất bại hoặc những việc không đúng ý mình, sức khỏe tâm thần không vững nên dễ vấp ngã trong cuộc sống. Thực tế, nhiều HS sống khép kín với xã hội, chỉ lo học tập và giao tiếp với thế giới qua mạng Internet mà ít có những giao tiếp ngoài đời thực nên dễ bị ảnh hưởng bởi những lối sống lệch lạc ở thế giới “ảo”.
Nhưng vấn đề cốt yếu là các em sống mà không có ước mơ hoài bão, chưa xác định được mục đích lý tưởng sống của mình, chưa hiểu được vai trò quan trọng của mình đối với gia đình và xã hội nên chưa biết quý trọng bản thân.
Thế nên để giải quyết vấn đề này cần nhìn nhận một cách tổng thể. Công tác giáo dục toàn diện HS trong nhà trường phổ thông cần đẩy mạnh hơn nữa với các hoạt động Đoàn Đội, ngoại khóa, công tác xã hội cũng như động tập thể nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho HS.
Có nhiều vấn đề chúng ta cần giáo dục HS như rèn luyện tư duy sống tích cực, sống có ích, sống có trách nhiệm trước hết là với bản thân rồi đến gia đình và xã hội. Đặc biệt giáo dục cho các em biết rõ vai trò, vị trí của các mình đối với sự phát triển của xã hội để các em biết trân trọng bản thân, giữ mình để mai này phục vụ đất nước.
Ngoài ra, gia đình và nhà trường cần tăng cường nắm bắt tư tưởng, tâm tư nguyện vọng và diễn biến tâm lý của các em nhằm có biện pháp hỗ trợ kịp thời trước những khó khăn của các em. 
Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - hội trưởng Hội quán các bà mẹ:
“Khó khăn là một phần của cuộc sống”
Cuộc sống hiển nhiên có khó khăn, sẽ có rất nhiều điều không vừa ý chúng ta, đó là điều không thể tránh khỏi. Các em HS cũng cần biết và hiểu về điều này để không bi quan, bế tắc trước những sự cố đến với mình mà nên nhìn sự việc một cách tích cực hơn. Khó khăn, thất bại cũng là những nấc thang giúp mình trưởng thành, chững chạc.
Bố mẹ, thầy cô không thể kè kè bên học trò suốt ngày hay suốt đời vì thế muốn biết được tâm tư lo lắng của con hãy tạo điều kiện, giúp đỡ các em có thói quen bày tỏ cảm xúc, vấn đề của mình. Ngoài ra cần trang bị cho trẻ cách ứng phó đối với những va vấp, những điều chưa như ý mình và cách chấp nhận sự thật để tìm người giúp đỡ trước sự việc được cho là đã rất “tệ hại” của mình. 
Chỉ mấy trăm nghìn tiền quỹ lớp mà phải đánh đổi cả tính mạng thì quá đau lòng. Nếu các em biết cách chia sẻ, bày tỏ cảm xúc với người thân, bạn bè... chí ít cũng sẽ có những hướng gợi mở để giải quyết khó khăn. 
HS cần được giáo dục ý thức về giá trị bản thân và trách nhiệm đối với chính mình và những người xung quanh như bạn bè, gia đình, thầy cô nhiều hơn nữa. Có như vậy các em mới không đánh dễ dàng đánh đổi thân thể, cuộc sống của mình vì đánh mất mấy năm ngàn hay những khúc mắc trong đời sống. 
Chị Nguyễn Ngọc Anh - phụ huynh HS tại trường THCS ở Q.5 TPHCM:
"Phụ huynh cũng cần học kỹ năng làm cha mẹ"
Nhà tôi có hai cháu nên mọi nhu cầu và yêu cầu trong cuộc sống của con mình đều cố gắng đáp ứng vì không muốn cháu phải lo lắng điều gì. Tôi mong tương lai con mình sau này sẽ thành công, bây giờ luôn động viên con học rất nhiều. Ngoài thời gian ở lớp, gia đình cho cháu đi học thêm, học ở trung tâm, học năng khiếu…
Phụ huynh tham gia học kỹ năng sống cùng con. 
Phụ huynh tham gia học kỹ năng sống cùng con. 
Con qua tuổi dậy thì tôi mới mơ hồ nhận ra, cháu luôn lúng túng trước mọi tình huống bất thường đến với mình như mỗi bị bạn giận, cô la cháu buồn chán đến mức bỏ ăn. Ra ngoài cháu rất sôi động nhưng về nhà lại khép kín, giữ khoảng cách với bố mẹ rất lớn, chúng tôi không thể nào tiếp cận được với con. Nếu cháu làm sai hay phạm lỗi lầm nào đó, chắc gì cháu đã nói với tôi, tôi không hiểu lúc cháu sẽ tìm đến ai? 
Quả thật lâu nay cháu làm gì không đúng mình thường la mắng, chỉnh đốn, phạt chứ ít đồng cảm, chia sẻ cho con các giải pháp. Phải chăng chính những người làm bố mẹ như chúng tôi cũng thiếu hụt kỹ năng tiếp cận, trò chuyện với con?
Giờ việc tôi có thể làm là giảm tải việc học cho con, không đặt nặng việc cháu phải đạt kết quả học tập này nọ mà sẽ hướng con đến tham gia các khóa đào tạo về kỹ năng sống để cháu mạnh mẽ, tự lập hơn trước khi là một HS giỏi. 

Giáo viên sử dụng bằng đại học giả vẫn đứng lớp


Một giáo viên có hơn 7 năm đứng trên bục giảng để truyền đạt văn hóa cho học sinh lại sử dụng bằng giả. Tuy đã bị “lật tẩy” từ lâu, nhưng đến nay cô vẫn đang đứng trên bục giảng với tấm bằng đại học giả.

Cô giáo sử dụng bằng giả để được nâng lương
Thông tin từ các bậc phụ huynh, học sinh gửi đến PV phản ánh hiện nay tại Trường THCS Nghi Trung có trường hợp cô Trần Thị Kim Ngân (SN 1974) là giáo viên dạy môn Âm nhạc, Giáo dục công dân sử dụng bằng đại học giả để đứng lớp.
Để tìm hiểu rõ sự tình, chúng tôi đã tìm về Trường THCS Nghi Trung, nơi cô Kim Ngân đang công tác.
Cô Trần Thị Thu Hương - hiệu trưởng nhà trường cho biết: “Sự việc cô Kim Ngân dùng bằng giả là có thật. Khi kê khai bằng cấp, cô Ngân đã khai gian để được hưởng bậc lương cao hơn”.
Giáo viên sử dụng bằng đại học giả vẫn được đứng lớp
Cô Trần Thị Kim Ngân tốt nghiệp Cao đẳng chuyên ngành Giáo dục công dân - Nhạc tại trường CĐ Sư phạm Đắk Lắk.
Được biết, cô Trần Thị Kim Ngân được phân công về giảng dạy tại Trường THCS Nghi Trung từ năm 2005, đến năm 2007 thì được chính thức tuyển dụng vào ngành. Giữa năm 2010, khi có chủ trương chuyển đổi mã ngạch, bậc lương của ngành giáo dục, cô Trần Thị Kim Ngân đã sử dụng bằng Đại học tại chức ngành Âm nhạc của Trường ĐH Sư phạm TPHCM để kê khai.
Sau đó, nhiều thông tin đã được phản ánh lên Phòng GD-ĐT huyện Nghi Lộc về việc nghi ngờ cô Kim Ngân có dấu hiệu sử dụng bằng giả. Tháng 2/2011, phòng GD-ĐT huyện Nghi Lộc đã gửi văn bản thông báo đến nhà trường về trường hợp cô Ngân có dấu hiệu sử dụng bằng đại học giả và yêu cầu chuyển tất cả hồ sơ lên cho Phòng tiến hành kiểm tra xác minh.
Ngay sau đó, tất cả hồ sơ có liên quan của cô Trần Thị Kim Ngân đã được chuyển lên phòng GD-ĐT để tiến hành điều tra xác minh tính xác thực của bằng cấp mà cô Ngân đang sử dụng.
Giáo viên sử dụng bằng đại học giả vẫn được đứng lớp
Công văn phúc đáp xác minh bằng cấp của Trường ĐH Sư phạm TPHCM với trường hợp của Trần Thị Kim Ngân đã kết luận đây là “bằng giả mạo” vì trường không có chuyên ngành Âm nhạc.
Sau khi tiến hành gửi tất cả các văn bản để xác minh tại các trường mà cô Ngân đã theo học, ngày 14/12/2011, nhà trường nhận được văn bản photo xác minh của Trường ĐH Sư phạm TPHCM do Phòng GD-ĐT huyện Nghi Lộc gửi về với nội dung “phúc đáp xác minh đơn phản ánh của giáo viên và phòng GD-ĐT huyện Nghi Lộc”. Theo đó, văn bản do hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm TPHCM - TS. Bạch Văn Hợp gửi Giám đốc Sở GD-ĐT Nghệ An, Phòng Tổ chức cán bộ Sở GD-ĐT xác nhận với 3 nội dung: “Trường Đại học Sư phạm TPHCM không có ngành Âm nhạc, nên không có sinh viên tốt nghiệp ngành này; Không đúng chữ kỹ của ông Bùi Mạnh Nhị; Bằng tốt nghiệp của Trần Thị Kim Ngân như trên là giả mạo”.
Ngày 29/03/2012, hiệu trưởng Trường CĐ Sư phạm Đắk Lắk - Phạm Vũ Luật có công văn gửi Trưởng phòng GD-ĐT huyện Nghi Lộc xác nhận: Trần Thị Kim Ngân tốt nghiệp hệ cao đẳng chính quy năm 2003 ngành Giáo dục công dân - Nhạc, với loại Trung bình - khá cấp ngày 1/8/2003.
Như vậy, bằng đại học chuyên ngành Âm nhạc được ghi là do Trường ĐH Sư phạm TPHCM cấp mà cô Ngân đang sử dụng là bằng giả. Khi thực hiện chủ trương của ngành giáo dục về chuyển đổi mã ngạch, bậc lương, cô Trần Thị Kim Ngân đã khai gian bằng cấp, từ bằng Cao đẳng thành bằng Đại học tại chức để được hưởng bậc lương và phụ cấp cao hơn.
ng bng giả… vẫgiảng dạở trường chuẩn quốc gia
Sau khi Trường ĐH Sư phạm TPHCM có công văn xác minh, bằng đại học tại chức mà cô Trần Thị Kim Ngân sử dụng đích thực là bằng giả, đến nay, cô Ngân vẫn đang tiếp tục được công tác và hưởng lương bậc đại học bình thường tại Trường THCS Nghi Trung. Điều này khiến phụ huynh và học sinh của trường không đồng tình và không thể chấp nhận được, nhất là Trường THCS Nghi Trung là trường đạt chuẩn quốc gia.
Lý giải cho việc cô Ngân hiện vẫn đang được công tác tại trường sau khi biết cô Ngân sử dụng bằng giả, cô Trần Thị Thu Hương - hiệu trưởng Trường THCS Nghi Trung cho biết: Từ tháng 2/2012, nhà trường đã nhận được văn bản của Sở GD-ĐT Nghệ An và Phòng GD-ĐT huyện Nghi Lộc về việc cô Ngân dùng bằng giả. Nhưng do trường chưa nhận được ý kiến chỉ đạo xem xét hình thức kỷ luật cô Ngân, nên trường chưa tiến hành các hình thức kỷ luật.
Ngày 28/5/2012, Phòng GD-ĐT huyện Nghi Lộc ra công văn chỉ đạo về việc hướng dẫn quy trình xem xét hình thức kỷ luật đối với cô Ngân. Nhưng sang đầu tháng 6/2012, nhà trường mới nhận được văn bản. Vào thời điểm đó, nhà trường đang tiến hành tổng kết năm học để nghỉ hè, mọi công tác xếp loại giáo viên đã làm xong nên chưa thực hiện được văn bản của Phòng GD-ĐT huyện.
Đến ngày 26/7/2012, nhà trường bắt đầu tiến hành họp Hội đồng kỷ luật và căn cứ vào Nghị định 27 của Thủ tướng Chính phủ nhất trí tiến hành, cảnh cáo toàn ngành, buộc hoàn trả lại chế độ lương và phụ cấp khác đang hưởng theo bằng cấp giả đối với cô Ngân. Và cho cô Ngân viết bản tự kiểm điểm. Nhưng do thời điểm này đang trong kỳ nghỉ hè nên Phòng GD-ĐT huyện Nghi Lộc đã tạm hoãn việc thông báo thi hành kỷ luật để đảm bảo quyền lợi cho giáo viên.
Ngày 12/9/2012, nhà trường tiếp tục họp hội đồng kỷ luật để xem xét, biểu quyết hình thức kỷ luật đối với cô Ngân. Sau khi thống nhất, hội đồng đã đồng ý biểu quyết mức cảnh cáo toàn ngành, buộc hoàn trả lại toàn bộ chế độ lương, phụ cấp khác mà cô Ngân hưởng theo bằng giả và hưởng theo chế độ lương, phụ cấp đúng với bằng cấp được đào tạo là cao đẳng.
Giáo viên sử dụng bằng đại học giả vẫn được đứng lớp
Bằng đại học chuyên ngành Âm nhạc của Trường ĐH Sư phạm TPHCM mà cô Trần Thị Kim Ngân sử dụng là bằng giả mạo.
“Tôi rất lấy làm tiếc với trường hợp của cô Ngân và đây cũng là bài học kinh nghiệm cho những người thực hiện công tác giảng dạy. Sắp tới huyện sẽ có quyết định hình thức xử lý đối với cô Ngân. Theo đó, sẽ truy thu và hoàn trả lại chế độ lương và phụ cấp của cô Ngân từ lúc cô sử dụng bằng giả. Sau đó, buộc phải chuyển cô Ngân khỏi trường. Chúng tôi cũng mong muốn cấp trên giải quyết vấn đề này sớm hơn để trường ổn định tình hình dạy và học”, cô Trần Thị Thu Hương nói.

Con, cháu ruột của GV được ưu tiên vào lớp chọn, phụ huynh bức xúc


Nhiều phụ huynh tỏ ra rất bức xúc trước việc tuyển học sinh vào lớp chọn của Trường THPT số 1 Quảng Trạch, huyện Quảng Trạch (Quảng Bình) khi trường đưa ra chính sách ưu tiên đối với con hoặc cháu ruột của giáo viên trong trường.

Bà Trần Thị Hồng (phụ huynh em V.M.C, học lớp 10A3, Trường THPT số 1 Quảng Trạch) phản ánh việc ban lãnh đạo nhà trường có nhiều dấu hiệu bất minh trong việc tuyển học sinh (HS) vào các lớp chọn của trường.
Cụ thể, nội dung bà Hồng phản ánh là kết quả 3 môn thi vào lớp 10 của em C. là: môn Văn: 7,25 điểm; Toán: 7,50 và điểm tiếng Anh là 8,25. Em C. được xếp vào lớp 10A3 của Trường THPT số 1 Quảng Trạch. Trong khi đó, một số HS có tổng số điểm thấp hơn C lại được vào lớp chọn 10A2 của trường.
 
Ngoài trường hợp của bà Trần Thị Hồng gửi đơn phản ánh về những "khuất tất" trong công tác tuyển chọn học sinh vào các lớp chọn của Trường THPT số 1 Quảng Trạch, PV Dân trí còn nhận được nhiều cuộc điện thoại từ phụ huynh tỏ ra bức xúc trước việc làm mà họ cho là thiếu minh bạch của lãnh đạo nhà trường.
 
Trước những thắc mắc trên của bà Hồng và nhiều phụ huynh khác, ngày 8/9/2012, ông Trần Thanh Tịnh - phó hiệu trưởng Trường THPT số 1 Quảng Trạch đã trả lời với nội dung như sau: Việc xét các HS dựa trên nguyện vọng của các em và điểm chuẩn là điểm Toán. Đối với HS lớp 10A1 thì điểm chuẩn là 8,25 điểm; lớp 10A2 là 7,75 điểm; đồng thời có những ưu tiên như: là HS giỏi ở THCS, có giải trong các kỳ thi cấp tỉnh, là con hoặc cháu ruột của giáo viên. Còn lớp 10A3 thì điểm chuẩn Toán là 7,25. Việc đưa ra điểm chuẩn và việc ưu tiên con, cháu ruột của giáo viên là do chủ trương nội bộ của trường. Không có văn bản nào quy định cho việc xếp lớp mà đó chỉ là quy định riêng của nhà trường!
 
Trường ưu tiên con, cháu ruột của giáo viên vào lớp chọn, phụ huynh bức xúc
Nội dung công văn của ông Trần Thanh Tịnh - hiệu phó Trường THPT số 1 Quảng Trạch trả lời phản ánh của bà Trần Thị Hồng.
Chưa thỏa đáng với nội dung trả lời trên, bà Hồng đã nhiều lần liên hệ, đề nghị gặp bà Nguyễn Thị Liên - hiệu trưởng nhà trường để kiến nghị nhưng lãnh đạo nhà trường đều từ chối gặp. Sau nhiều cuộc hẹn bất thành, bà Hồng đã đến thẳng nhà riêng của bà Liên để nhận được câu trả lời thẳng thắn từ bà. Theo như bà Hồng cho biết, trong cuộc trao đổi này, bà Liên đã lớn tiếng và thách thức: “Con tôi được 7,25 điểm, thua con chị tôi vẫn cho vô được, chị kiện tôi à? Con cô Dung được 6 điểm môn Toán tôi vẫn cho vào A2, chị thắc mắc với tôi à?”.
Trao đổi với phóng viên về vụ việc, bà Liên đã thừa nhận có xảy ra sự việc trên và đó là “quy định nội bộ” của trường; còn việc xét HS vào các lớp chọn là để bồi dưỡng HS có chất lượng và có thể tham dự các kỳ thi đạt giải để lấy thành tích chung cho nhà trường. Tuy nhiên, việc xếp lớp theo điểm thì nhà trường lấy điểm từ cao xuống thấp cho đủ sĩ số của lớp chứ không có chuyện đặt ra chuẩn điểm như bà Hồng phản ánh.

Báo động từ nghiên cứu giáo dục


Kết quả xếp hạng mới nhất của nhóm nghiên cứu SCImago (Tây Ban Nha) với vị trí của các viện, trường đại học của Việt Nam tiếp tục tụt hạng là một báo động cho hoạt động nghiên cứu khoa học của Việt Nam.

Đi vào từng lĩnh vực nghiên cứu khoa học sẽ thấy rõ hơn về thực trạng chung này. Chẳng hạn, việc phân tích kết quả nghiên cứu của khoa học giáo dục (KHGD) VN dựa trên các thước đo theo chuẩn mực quốc tế: số lượng, chất lượng và tầm ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu có thể cho thấy một số xu hướng rất đáng quan ngại về nghiên cứu giáo dục ở nước ta.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia thuộc ĐHQG TP.HCM. (Ảnh: Minh Đức)
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia thuộc ĐHQG TP.HCM. (Ảnh: Minh Đức)
 
Số lượng ít ỏi
 
Trong khoảng thời gian từ 1996-2010, ngành KHGD của VN công bố được 39 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này chiếm khoảng 9% tổng số ấn phẩm khoa học trong ngành khoa học xã hội (354 bài trong cùng thời gian). Tính trung bình mỗi năm VN chỉ công bố trên hai bài nghiên cứu về giáo dục. Đó là một con số rất khiêm tốn khi đối chiếu với số người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục trên cả nước.
 
Tính theo số lượng, VN đứng hạng 14 trong 21 nước khu vực Đông Á (Malaysia hạng 8, Thái Lan hạng 9, Philippines hạng 11). Con số bài nghiên cứu về giáo dục của VN chỉ bằng 1/37 so với Đài Loan (hạng 1) và 1/30 so với Hong Kong (hạng 2)...
 
Phân tích nội dung của các công trình nghiên cứu này cho thấy phần lớn lại liên quan đến đào tạo trong y khoa và là kết quả của các dự án hợp tác quốc tế trong giáo dục sức khỏe (16 bài). Chỉ có bốn công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ học. Tính chung, số bài viết về KHGD thực thụ chỉ có 13 bài.
 
Trong số 39 công trình nghiên cứu chỉ bảy bài là “thuần Việt”, hiểu theo nghĩa không có đồng tác giả nước ngoài, phần còn lại đều có tác giả nước ngoài đứng tên. Có 17 bài tác giả chính là người Việt. Điều này cho thấy cũng như trong các lĩnh vực khác, nghiên cứu về giáo dục ở nước ta còn phụ thuộc rất nhiều vào hợp tác quốc tế.
 
Sẽ rất khó nói đến năng suất với một số lượng công trình ít như vậy. Theo thống kê, ở Úc số người làm nghiên cứu chuyên nghiệp trong KHGD chiếm khoảng 1% tổng số nhân lực của ngành giáo dục và 90% số các nhà khoa học này hoạt động trong các trường đại học. Ở nước ta có khoảng 24.300 người có bằng tiến sĩ, trong đó 7.924 người đang làm việc trong các trường đại học và cao đẳng. Tuy nhiên, chúng tôi không có tư liệu cho thấy trong số này có bao nhiêu người chuyên nghiên cứu về giáo dục, cũng như không có số liệu về kinh phí dành cho nghiên cứu giáo dục. Cho đến nay, ở VN chỉ có một số ít đơn vị nghiên cứu giáo dục chuyên nghiệp. Các trường đại học có khoa giáo dục hay sư phạm thường tập trung vào đào tạo hơn là nghiên cứu. Những đơn vị này đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu, trong đó có thể có những nghiên cứu có giá trị, nhưng việc đưa ra những tri thức này cho cộng đồng học thuật nước ngoài kiểm nghiệm giá trị thì còn rất hạn chế, thậm chí việc phổ biến những tri thức ấy đến với giới hoạch định chính sách và cộng đồng giáo dục trong nước cũng rất hạn chế.
 
Số lần trích dẫn các công trình nghiên cứu giáo dục từ vài quốc gia châu Á:

Nước, 
lãnh thổ
Số bài
Số lượng trích dẫn
Số lượng trích dẫn mỗi bài
Chỉ số H
1
Ðài Loan
1.455
7.672
9,11
34
...8
Malaysia
399
895
4,93
14
9
Thái Lan
177
310
2,91
8
10
Philippines
111
136
2,75
6
...13
VN
39
62
2,22
4
14
Campuchia
8
6
0,54
2
 
Chất lượng thấp
 
Chất lượng của các công trình nghiên cứu có thể thể hiện qua số lượng trích dẫn và chỉ số H. Bảng so sánh dưới đây cho thấy xét về số lượng và về chỉ số H, xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo VN đều đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia. Điều đáng lưu ý là khoảng cách giữa VN và các nước khá xa: chỉ số H ngành giáo dục của VN là 4, trong khi Đài Loan, Hong Kong và Trung Quốc theo thứ tự tương ứng là 34, 28 và 17.
 
Một thước đo khác cho thấy chất lượng của hoạt động nghiên cứu là mức độ tồn tại ít hay nhiều những tác giả có ảnh hưởng trong chuyên ngành, tức là những người có năng suất cao, viết nhiều và được nhiều người trích dẫn. Các thống kê cũng cho thấy VN không có tác giả nào có trên năm công bố khoa học quốc tế trong giáo dục trong vòng 15 năm qua (trong lúc Singapore có 71 tác giả như thế). Ngoài ra, tổng số trích dẫn của các bài báo từ VN là thấp nhất và khoảng cách rất xa so với các nước còn lại trong khu vực.
 
Phát triển không tương xứng...
 
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng vị trí nghiên cứu về giáo dục của VN còn quá khiêm tốn. Trong đó, nhiều nhân tố đúng với cả những lĩnh vực nghiên cứu khác. Hạn chế về kinh phí nghiên cứu, tiếng Anh và văn hóa công bố quốc tế là những yếu tố chính. Đối với lĩnh vực giáo dục, hạn chế trong phương pháp nghiên cứu và năng lực tiếp cận nguồn thông tin của giới nghiên cứu là những rào cản quan trọng. Giới hạn trong nhận thức của những nhà hoạch định chính sách về tầm quan trọng của việc sử dụng kết quả nghiên cứu giáo dục cho việc xây dựng chính sách giáo dục cũng có thể là một trong những hạn chế trong sự phát triển của KHGD ở nước ta.
 
Chưa có chứng cứ để nói rằng sự yếu kém trong KHGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục, nhưng những dữ liệu hình như nhất quán với nhận xét đó. Tính từ thập niên 1970 đến nay, khoảng cách của VN với các nước trong khu vực (trừ Philippines) càng lúc càng xa. So với năm 1970 thì thu nhập trung bình trên đầu người của VN đã tăng gần 20 lần, trong lúc đó Malaysia tăng 21 lần, Thái Lan tăng 24 lần, Indonesia tăng 36 lần, Singapore tăng 45 lần. So sánh tương quan giữa các nước với VN thì năm 1970 thu nhập bình quân đầu người của Indonesia cao hơn VN 1,3 lần, đến năm 2010 Indonesia đã cao hơn VN 2,4 lần. Cùng thời gian đó, tương quan GDP đầu người giữa Malaysia và VN là 6,3 lần và 6,8 lần; giữa Singaporevà VN là 14,9 lần và 34,2 lần; giữa Thái Lan và VN là 3,1 và 3,7 lần.
 
Sự yếu kém về KHGD của VN thể hiện qua công bố quốc tế đã phần nào cho thấy sự bất cập của giáo dục trong việc đổi mới để đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của toàn cầu hóa. Việc đối chiếu với kết quả nghiên cứu giáo dục của các nước trong khu vực cho thấy trong vòng 15 năm qua, tất cả các nước đều có bước phát triển nhảy vọt, kể cả VN, nhưng nhịp điệu phát triển của KHGD VN còn khoảng cách xa so với các nước và không tương xứng với nhịp điệu phát triển của nền kinh tế.

Hà Nội: Tăng cường công tác giám sát thu-chi đầu năm học


Trong đợt khảo sát tình hình thu chi tại các trường học ở Hà Nội, đoàn khảo sát của Hội đồng Nhân dân TP Hà Nội ghi nhận một số đơn vị vẫn chưa thực hiện đúng với quy định. Những đơn vị thu chưa đúng đoàn kiến nghị trả lại cho phụ huynh.

Từ ngày 20 đến hết 28/9, Ban Văn hóa - xã hội HĐND TP Hà Nội khảo sát tình hình thu - chi học phí và một số khoản thu khác năm học 2012 -2013 trong các trường mầm non, phổ thông trên địa bàn. Qua 6 ngày kiểm tra thực tế, đoàn đã tiếp nhận nhiều kiến nghị của các đơn vị.
Quá trình kiểm tra cũng phát hiện một số đơn vị thu khoản thỏa thuận cao hơn so với hướng dẫn của Sở GD-ĐT Hà Nội. Nguyên nhân do văn bản hướng dẫn của Sở GD-ĐT ban hành muộn, trong khi các trường hoạt động từ giữa tháng 8/2012.
Thực tế khảo sát còn cho thấy, còn một số trường triển khai các khoản thu ngoài quy định như bảo trì máy tính, quỹ khuyến học. Tuy nhiên lãnh đạo quận đã chỉ đạo các trường điều chỉnh mức thu theo quy định mới, trả lại cho phụ huynh khoản thu sai. Ngoài ra, quá trình khảo sát tại các đơn vị còn cho thấy việc triển khai thu quỹ hoạt động của ban đại diện cha mẹ HS chưa đúng. Đoàn công tác cũng đã góp ý với ban đại diện cha mẹ HS các trường phải xây dựng chương trình, danh mục hoạt động cụ thể của từng học kỳ trước, từ đó dự toán kinh phí rồi mới xác định mức thu với nguyên tắc tự nguyện…
Cũng nhằm chấn chỉnh công tác thu-chi đầu năm, Sở GD-ĐT Hà Nội cũng đã tổ chức 5 đoàn kiểm tra, thanh tra định kỳ, đột xuất việc thực hiện thu, sử dụng các khoản thu khác tại các trường học; tăng cường các buổi làm việc với Trưởng các đoàn kiểm tra để trao đổi và tìm giải pháp chấn chỉnh tình trạng lạm thu tại một số cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố. Ngay hôm nay (26/9), các đoàn này đã bắt đầu làm nhiệm vụ.
Theo quan điểm của Sở GD-ĐT Hà Nội, trên cơ sở tình hình thực tế của trường mà xây dựng mức chi theo thỏa thuận và phải có văn bản thỏa thuận tới từng phụ huynh, trên cơ sở nguyên tắc thu đủ chi và phải dựa trên tinh thần tự nguyện, có sự thống nhất trong ban giám hiệu nhà trường; các khoản thu thoả thuận phải có phiếu thu theo quy định. Các khoản thu này phải đưa vào sổ sách kế toán và hạch toán theo quy định; phải thực hiện công khai các khoản thu. Quá trình quản lý và sử dụng phải quán triệt các nguyên tắc tự nguyện, đúng mục đích, dân chủ, công khai và minh bạch.
Việc huy động và tiếp nhận các khoản đóng góp đều được dựa trên nguyên tắc tự nguyện của hai bên. Nếu cha mẹ HS nào có điều kiện và lòng hảo tâm muốn đóng góp thêm, nhà trường có quyền được tiếp nhận. Ngoài mức thu theo quy định, các nhà trường được phép tiếp nhận các nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật.
Sở GD-ĐT Hà Nội cũng nhấn mạnh: Lãnh đạo Phòng GD-ĐT phải nắm được các khoản thu của các nhà trường, nhất là các khoản thu tự nguyện, thu theo thỏa thuận phải thu đúng mục đích, thu đủ chi, công khai, thực hiện đúng quy trình. Sở sẽ đi kiểm tra và nghiêm khắc xử lý nếu để xảy ra trường hợp lạm thu.

Hà Nội: Tăng cường công tác giám sát thu-chi đầu năm học


Trong đợt khảo sát tình hình thu chi tại các trường học ở Hà Nội, đoàn khảo sát của Hội đồng Nhân dân TP Hà Nội ghi nhận một số đơn vị vẫn chưa thực hiện đúng với quy định. Những đơn vị thu chưa đúng đoàn kiến nghị trả lại cho phụ huynh.

Từ ngày 20 đến hết 28/9, Ban Văn hóa - xã hội HĐND TP Hà Nội khảo sát tình hình thu - chi học phí và một số khoản thu khác năm học 2012 -2013 trong các trường mầm non, phổ thông trên địa bàn. Qua 6 ngày kiểm tra thực tế, đoàn đã tiếp nhận nhiều kiến nghị của các đơn vị.
Quá trình kiểm tra cũng phát hiện một số đơn vị thu khoản thỏa thuận cao hơn so với hướng dẫn của Sở GD-ĐT Hà Nội. Nguyên nhân do văn bản hướng dẫn của Sở GD-ĐT ban hành muộn, trong khi các trường hoạt động từ giữa tháng 8/2012.
Thực tế khảo sát còn cho thấy, còn một số trường triển khai các khoản thu ngoài quy định như bảo trì máy tính, quỹ khuyến học. Tuy nhiên lãnh đạo quận đã chỉ đạo các trường điều chỉnh mức thu theo quy định mới, trả lại cho phụ huynh khoản thu sai. Ngoài ra, quá trình khảo sát tại các đơn vị còn cho thấy việc triển khai thu quỹ hoạt động của ban đại diện cha mẹ HS chưa đúng. Đoàn công tác cũng đã góp ý với ban đại diện cha mẹ HS các trường phải xây dựng chương trình, danh mục hoạt động cụ thể của từng học kỳ trước, từ đó dự toán kinh phí rồi mới xác định mức thu với nguyên tắc tự nguyện…
Cũng nhằm chấn chỉnh công tác thu-chi đầu năm, Sở GD-ĐT Hà Nội cũng đã tổ chức 5 đoàn kiểm tra, thanh tra định kỳ, đột xuất việc thực hiện thu, sử dụng các khoản thu khác tại các trường học; tăng cường các buổi làm việc với Trưởng các đoàn kiểm tra để trao đổi và tìm giải pháp chấn chỉnh tình trạng lạm thu tại một số cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố. Ngay hôm nay (26/9), các đoàn này đã bắt đầu làm nhiệm vụ.
Theo quan điểm của Sở GD-ĐT Hà Nội, trên cơ sở tình hình thực tế của trường mà xây dựng mức chi theo thỏa thuận và phải có văn bản thỏa thuận tới từng phụ huynh, trên cơ sở nguyên tắc thu đủ chi và phải dựa trên tinh thần tự nguyện, có sự thống nhất trong ban giám hiệu nhà trường; các khoản thu thoả thuận phải có phiếu thu theo quy định. Các khoản thu này phải đưa vào sổ sách kế toán và hạch toán theo quy định; phải thực hiện công khai các khoản thu. Quá trình quản lý và sử dụng phải quán triệt các nguyên tắc tự nguyện, đúng mục đích, dân chủ, công khai và minh bạch.
Việc huy động và tiếp nhận các khoản đóng góp đều được dựa trên nguyên tắc tự nguyện của hai bên. Nếu cha mẹ HS nào có điều kiện và lòng hảo tâm muốn đóng góp thêm, nhà trường có quyền được tiếp nhận. Ngoài mức thu theo quy định, các nhà trường được phép tiếp nhận các nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật.
Sở GD-ĐT Hà Nội cũng nhấn mạnh: Lãnh đạo Phòng GD-ĐT phải nắm được các khoản thu của các nhà trường, nhất là các khoản thu tự nguyện, thu theo thỏa thuận phải thu đúng mục đích, thu đủ chi, công khai, thực hiện đúng quy trình. Sở sẽ đi kiểm tra và nghiêm khắc xử lý nếu để xảy ra trường hợp lạm thu.